Nơi giao lưu, tản mạn... cùng bạn hữu yêu văn học nghệ thuật gần xa.
Không bao giờ quá sớm để kết bạn & quá muộn để yêu - Sandy Wilson

Một góc nhìn về nhạc phẩm “Đóa hoa vô thường” (P2)- BVHH

MỘT GÓC NHÌN VỀ NHẠC PHẨM "ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG" (P2)





3. Tình yêu say đắm và hạnh phúc lứa đôi






Một góc nhìn về “Ðoá hoa vô thường"
NS Trịnh Công Sơn


     Chúng
ta cùng ông TCS đi vào khổ thơ số 6, xin góp tên cho khổ thơ là ‘Trăng
mật”. Vì ở khổ thơ này, cho chúng ta biết hạnh phúc của họ có những gì. “từ nay tôi đã có người – có em đi đứng bên đời líu lo” hai câu lục bát này đối chỉnh và cân phương. Đối với tác giả thì “đã có người”,
có nghĩa là ông đã thỏa mãn... Còn đối với “người” của ông thì sao?
Chúng ta thấy ngay trạng huống tinh thần rất phấn khởi, rất yêu đời, rất
hạnh phúc của nàng, qua hai động từ “đi và đứng” trong niềm
vui từ nội tâm dâng trào sóng nhạc. Ngài Trịnh quả là bậc thầy trong tu
từ, khi diễn tả tâm trạng hạnh phúc của người yêu bằng lối hành văn kỳ
cục mà cực kỳ biểu ý. Xin cùng nghiền ngẫm câu thơ “có em đi đứng bên đời líu lo”. Em đi hay em đứng thường hàm nghĩa hoạt động đi tới hoặc đứng lại, nghĩa cơ bản nó là thế. “Líu lo
là từ láy thường được dùng để nói về tiếng chim hót líu lo (chim có
khỏe mạnh, có no lòng, có sạch sẽ, có hứng khởi ... thì mới hót và hót
líu lo với nhiều giọng hót và nhiều cung bậc, đặc biệt là những bài hót
có âm vực cao). Hoặc một đứa trẻ nếu có được sự thương yêu chăm sóc chu
đáo của cha mẹ, giúp cho bé có được tâm lý tự nhiên, cởi mở dẫn đến hành
vi nói líu lo, nói liên tu, nói về bất cứ mọi chuyện cho cha mẹ nghe. Ở
câu thơ này, ngài Trịnh lại ghép những hoạt động đời thường với biểu
hiện líu lo bên đời của nàng. Líu lo trong câu làm trạng ngữ bổ ngữ cho
động từ “đi – đứng”. Dùng từ và đặt câu như thế, buộc chúng ta phải hiểu
rằng: “cô ấy đi đứng mà vui hát líu lo” như chim hót líu lo, hoặc như
em bé nói líu lo vì cảm giác an toàn từ cha mẹ đem lại. Cái hay của câu ở
chỗ: cô ấy vui sống bên đời không phải chỉ vì tự thân cô ta vui thỏa
mãn mà còn là nhờ bạn tình của cô đã làm “chỗ dựa an toàn tuyệt hảo cho
cô. Khéo quá ngài Trịnh ơi !



        Từ nhận định trên, chúng ta nhìn vào bốn câu cuối để đồng thuận cùng tác giả là: “từ nay tôi đã có tình – có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa – từ em tôi đã đắp bồi – có tôi trong dáng em ngồi trước sân”.
Họ trao tình yêu của bản thân cho bạn tình và được nhận lại trọn vẹn từ
bạn tình. Họ luôn “tương kính như tân”, luôn chăm lo vun đắp cho cuộc
sống lứa đôi. Ý của tác giả hẳn nhiên là thế, nếu ai còn nghi ngờ thì
xin mời tìm nghe nhạc phẩm này và để ý đến đoạn tiết tấu trình bày vui
vẻ, rộn ràng nhất của nhạc phẩm với loại nhịp 2/4.









       Tìm
hiểu đến đây, có lẽ có độc giả nghĩ, tình yêu đôi lứa mà chỉ có “trăng
mật” thì hơi hiếm trên đời. Nếu có ai nghĩ thế thì xin cho người viết
được bắt tay đồng thuận. Đúng vậy, vì cuộc sống “chung” của hai con
người trước đây hoàn toàn lạ nhau, chắc chắn sẽ có “đụng”. Xin thưa, tác
giả TCS cũng rất thành thực khi nói về kinh nghiệm “sống chung và
đụng”. Vấn đề là, khi tìm hiểu khổ thơ thứ bảy và thứ tám – chúng ta sẽ
tìm hiểu luôn cách thức giải quyết của họ khi có “đụng”.


          Mùa đông cho em nỗi buồn
           Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
           Tàn đông con nước kéo lên
           Chút tình mới chớm đã viên thành
” 


                           (khổ thơ 7)



     Chúng ta thấy từ “buồn” xuất hiện, buồn vì mùa đông u ám và lạnh giá, đó là nói theo khách quan của thời tiết. Nhưng câu “chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
lại cho chúng ta thấy một lý do “buồn” chủ quan từ trong lòng cô gái.
Buổi chiều cô ra đứng hát kinh đầu sông. Câu này mở ra cho người đọc
những thắc mắc:



     1/
Em ra đứng hát kinh là chỉ mình em ra đứng chứ không phải cả hai người
ra đứng hát kinh, mà đã nói hát kinh thì có nghĩa đó là một hoạt động
của niềm tin tôn giáo. Từ đó ta suy ra cô nàng có niềm tin tôn giáo, còn
anh chàng là người không tín ngưỡng hoặc không cùng tín ngưỡng với cô
nàng! Và nói theo ngôn ngữ hiện đại thì hai anh chị này có một cuộc hôn
nhân liên tôn.



       2/ Cô nàng ra hát kinh ở “đầu sông”.
Sao lại chọn đầu sông? Xin thưa, đầu sông hay cuối sông để sau này xét.
Giờ chúng ta xét đến việc cô đứng đầu sông hát kinh vào mùa đông, xin
nhìn vào hai câu tiếp “tàn đông con nước kéo lên – chút tình mới chớm đã viên thành”. Mùa đông đến em buồn, tàn đông sang xuân em vui. Huề.





Một góc nhìn về “Ðoá hoa vô thường




     Mùa
đông ra hát kinh đầu sông gởi nước đem đi một thông điệp nào đó đến
phía cuối sông, tàn đông con nước kéo lên, có nghĩa là có “hồi âm” hoặc
sinh khí mùa xuân. Vậy là vui. Đã vui thì còn đâu buồn! thế nên “chút tình mới chớm đã viên thành”.
Theo người viết hiểu từ “viên thành” là thành công viên mãn. Nói cách
khác là họ bắt đầu hòa hợp nên một. Chúng ta cùng mừng cho tình yêu của
hai người đã viên thành.



          “Từ nay anh đã có nàng
          Biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca
          Mùa xuân trên những mái nhà
          Có con chim hót tên là ái ân
” 


                      (khổ thơ 8)



     Toàn bộ khổ thơ số tám, cho chúng ta thấy hạnh phúc của họ. Nào là: có nàng, biết ơn sông núi, tiếng ca, mùa xuân, mái nhà, chim hót, ái ân. Ở đoạn này người viết xin dừng lại một chút ở câu “biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca”.
Vấn đề gây suy nghĩ là: sao chàng đang yêu và được nàng yêu say đắm,
lại không nói “biết ơn em” mà lại nói biết ơn sông núi ? Xin thưa, chàng
là người có lòng biết ơn - đây là một đức tính tốt. Chàng biết ơn nàng
là tất nhiên, nhưng nàng từ đâu mà có? Chàng nghĩ nàng từ đất nước -
sông núi mà có. Có quê hương thì mới có nàng. Vậy chàng biết ơn sông núi
và sáng tác nhạc ca ngợi sông núi gọi là đáp đền ơn sâu. Qua câu này
cũng cho người nghe hiểu rằng “Chàng theo truyền thống Nho Gia”.





Nghệ thuật ca từ của Trịnh Công Sơn qua tác phẩm “Ðoá hoa vô thường




4. Tình yêu ngọt ngào - hạnh phúc dâng cao - điềm báo



     Chúng ta cùng lắc lư thật chậm theo nhịp 6/8 và âm giai Trưởng, ca từ của khổ thơ thứ 9 được vang lên, du dương, bay bổng.



     “Sen
hồng một nụ - Em ngồi một thưở - Một thuở yêu nhau - có vui cùng sầu -
từ rạng đông cao - đến đêm ngọt ngào - Sen hồng một độ - Em hồng một
thuở xuân xanh - Sen buồn một mình - Em buồn đền trọn mối tình
”.




     Người
viết nhận ra, với tiết tấu đặc biệt khác so với các đoạn tiết tấu khác
trong bài, với âm giai Trưởng, với nhịp điệu 6/8 hiếm gặp trong âm nhạc,
tiết tấu đong đưa đu võng, du dương lãng mạn… Có vẻ đây là đoạn nhạc
tác giả viết để dành tặng riêng cho Vợ Yêu Dấu. Xét về ca từ, xin có
những ghi nhận sau: Cô gái ấy tên là Sen Hồng, hay Chàng gọi nàng là Sen
Hồng qua hai câu cuối “Sen buồn một mình – Em buồn …” .



     Ý
thứ hai: Chàng biết nàng rất yêu chàng, nhưng chàng cũng biết nàng vẫn
luôn mang một nỗi buồn một mình mà chàng không thể sẻ chia!! Sao tôi
biết ? Nhạc sỹ nói “em buồn một mình” đấy.



    Ý
thứ ba, đã thấy dấu hiệu của vô thường ngay trong lúc hạnh phúc nhất!
“Em hồng một thuở xuân xanh”. Vâng, chỉ một thuở… mà thôi!







"Đóa hoa vô thường" hòa tấu Nguyễn Ngọc Châu







5. Sinh ly tử biệt: khổ thơ thứ 10



           “Một chiều em đứng cuối sông
           Gió mùa thu rất ân cần
           Chở lời kinh đến núi non
           Những lời tình em trối trăn…






     Đã có một sự thay đổi vị trí, những khổ thơ trên nói “em đứng đầu sông”, nhưng giờ “em đứng cuối sông”.
Phải chăng, tác giả muốn dùng hình ảnh dòng chảy của con sông để ẩn dụ
về sức khỏe của Vợ mình, hoặc ẩn dụ về quê gốc của nàng.




     Cộng thêm thời khí “gió mùa thu rất ân cần
có nghĩa là mùa thu thì lá vàng rơi, mà lá càng nhanh rời cành khi có
gió, lá càng nhanh rơi về cội hơn vì gió quá ân cần (gió mạnh!) thật
khâm phục tài hoa dùng từ của ngài Trịnh. Nói là nàng yếu đau gì gì đó
rồi chết… thì là văn quèn của tôi, dễ hiểu … mà dễ quên! Văn như của
ngài Trịnh mới là văn.




     Nàng đã suy kiệt rồi thì lời kinh của nàng lại chuyển hướng! trước đây thì “đứng hát kinh đầu sông” (là còn hát được và còn đứng ở đầu sông, là ở đầu nguồn, là nơi của núi non cao) còn giờ thì “đứng cuối sông” chở lời kinh đến núi non là làm công việc chèo ngược dòng, khó khăn lắm thay!



     Câu “những lời tình em trối trăn
khiến người viết suy nghĩ vẩn vơ: Mái nhà hạnh phúc của hai người là ở
đầu sông, nàng đứng ở cuối sông, vậy chàng ở đâu? Chưa biết! Nhưng khi
nàng nói “trối trăn” thì tất nhiên phải có chàng nghe, chứ không lẽ có
người khác nghe mà không phải là chàng! Vậy suy ra: chàng cũng ở cuối
sông cùng nàng. Vậy cuối sông đây có ý nghĩa gì? Xin mời chúng ta cùng
đọc bốn câu sau của khổ thơ số 10.




          Một thời yêu dấu đã qua
           Gót hồng em muốn quay về
           Dù trần gian có xót xa
           Cũng đành về với quê nhà
”   




     Chết
rồi! nàng đã chết rồi! nhưng ông không nói từ “chết” mà lại mượn ý của
thành ngữ “sinh ký tử qui”. Chết là “về! về với quê nhà”. Cách dùng từ
như trên cũng nói lên ý tưởng của tác giả về Vợ Yêu là: “Em là nàng tiên
giáng trần, vì yêu anh nên đã sống với anh một thời gian, rồi lại phải
trở gót về tiên cảnh”.





Một góc nhìn về nhạc phẩm “Đóa hoa vô thường”



     Chúng
ta là người ngoài cuộc nên trước cái chết của nàng, chúng ta có buồn
đôi chút và có nỗi niềm vọng hướng chia sẻ niềm đau với tác giả, rồi
xong, vì người chết thì đã chết, người sống thì vẫn phải tiếp tục sống.
Thế nhưng, tác giả là người trong cuộc, là người trực tiếp đón nhận nỗi
niềm tử biệt. Ông có phản ứng nào?




6. Đau khổ và thương nhớ suốt đời:



     Tiêu đề trên đại diện cho cả khổ thơ số 11:



         “Từ đó trong vườn khuya
         Ôi áo em xưa là
         Một chút mây phù du
         Đã thoáng qua đời ta



         Từ đó trong hồn ta
        Ôi tiếng chuông não nề
        Ngựa hí vang rừng xa
        Vọng suốt đất trời kia

        Từ đó ta ngồi mê
        Để thấy trên đường xa
        Một chuyến xe tựa như
        Vừa đến nơi chia lìa




        Ông
Trịnh đã không đi tìm một người yêu khác, ông chỉ sống để yêu và tưởng
nhớ nàng, nỗi đau gào thét trong ông như tiếng ngựa lẻ bạn hí vang não
nề vang rừng khuya, nỗi đau làm tê liệt hoàn toàn mọi cảm xúc, để chỉ
còn ngồi mê … Cũng trong niềm đau, ông nhìn ra “tính phù du của mọi sự”.
Hợp rồi tan, đời người như một chuyến xe – đi rồi sẽ phải đến.






Một góc nhìn về nhạc phẩm “Đóa hoa vô thường”



7. Giải pháp của nhạc sỹ



     Ở
khổ thơ thứ 11, diễn tả niềm đau chôn kín của tác giả, dường như vô
phương giải tỏa. Thật may, tác giả đã tìm được lối ra cho mình. Chúng ta
cùng nghiền ngẫm khổ thơ 12:




          “Từ đó ta nằm đau
          Ôi núi cũng như đèo
          Một chút vô thường theo
          Từng phút cao giờ sâu …




     Ở
đây, càng chỉ rõ ông đã nhận ra bản chất vô thường của vạn vật. Ngay núi
non hay đèo cao là biểu tượng trường tồn cũng không còn thường hằng như
ông nghĩ. Giờ đây ngay núi cũng như đèo cũng vương một chút vô thường,
là núi mòn – đèo hư. Ông đã có kinh nghiệm một thời để yêu. Ông có thể
cùng với bạn tình trải qua những đau khổ của kiếp người: sinh – lão –
bệnh, cùng trải qua bằng tình yêu và bản lãnh của cả hai người. Nhưng
đứng trước “cái chết”, bạn tình của ông thúc thủ và ông cũng bó tay. Vô
thường trước đây chỉ như một thử thách để rèn luyện chí làm trai, giờ vô
thường được thể hiện ngay trên chuyện sinh tử của chính bạn tình! Tác
giả chỉ còn biết rên “từ đó ta nằm đau!!!”. Nằm mà nhớ những
thời khắc thăng hoa “phút cao” hay ngay trong góc kín của tâm hồn “giờ
sâu” mà đau đớn cho cái vô thường. Trên đây là nói về cái ngộ của tác
giả: về VÔ THƯỜNG.




     Nói về bạn tình “Sen Hồng” của tác giả.



      Nàng
đã chết! âm dương cách biệt! không còn thấy nhau. Ông Trịnh biết rõ
điều đó. Vấn đề là: ông không muốn điều đó. Xem chừng nhận định của
người viết có vẻ ngang ngược quá! Xin thưa rằng nói phải có chứng, và
tôi có bằng chứng như sau.




           “từ đó hoa là em
           Một sớm kia rất hồng
           Nở hết trong hoàng hôn




     Ba
câu này ông nói về ai? Ai cũng dễ trả lời là nói về người ấy. Nhưng cô
ấy chết rồi mà, làm sao lại biến thành hoa? Trong triết lý Nhà Phật có
chuyện người luân hồi thành hoa không? Dứt khoát không có. Vậy cái ý
niệm “hoa là em” của ông Trịnh từ đâu mà có? Ông đã làm “bất tử
hóa” bạn tình bằng tư tưởng của Đạo Nho (Đạo Lão) là chủ trương bất tử,
tức là quan niệm con người lúc chết, sự sống con người được thay đổi
chứ không mất đi. Vậy “từ đó hoa là em” có nghĩa là “em biến thành hoa”.




     Tất
nhiên, có thể hiểu, ông đã có một cuộc đối thoại liên tôn trong nội tâm
giữa tư tưởng Nhà Phật và triết lý Đạo Nho. Người viết không dám có ý
ngược gì cả, chỉ mong tìm hiểu, suy nghĩ và lý luận để hiểu được nội tâm
của tác giả “Đóa Hoa Vô Thường” mà thôi.




     Thế
là em bất tử, luôn ở cùng anh dưới hình dáng hoa quỳnh. Vậy ông yêu bạn
tình quá cố hay giờ ông yêu hoa quỳnh? Xin thưa hai tình yêu này của
ông nồng say như nhau. Và đây chính là lý do người viết nói ở cuối mục
số 2/: ông đặt tên cho mối tình này là “MỘT ĐÓA HOA QUỲNH”.




     Bởi
vì hoa quỳnh chỉ nở về đêm, nở nhanh và tàn nhanh, Ngài Trịnh lại bất tử
hóa người yêu bằng ý niệm nàng biến thành hoa quỳnh “nở hết trong hoàng hôn – đợi gió vô thường lên – từ đó em là sương – rụng mát trong bình minh”.
Rồi, thế là Người Yêu của Ngài Trịnh đã bất tử: ban đêm là hoa quỳnh,
ban ngày là sương. Thi vị quá, lãng mạn quá, liêu trai lắm, chung thủy
trọn đời ông Trịnh nhỉ.




     Phần ông Trịnh Công Sơn: từ đó ta là đêm
vâng ông là đêm để hoa quỳnh nở, không có đêm thì không có hoa quỳnh.
Vậy ông là đêm để nàng sống bất tử dưới dạng thức hoa quỳnh: đây vừa là
giải pháp cho tình yêu chung thủy của ông, vừa là nguyên lý cho sự bất
tử của vợ ông, lại cũng là lý do tồn tại và yêu “đêm” trong các tác phẩm
khác của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.




Kết luận



     “Đóa
Hoa Vô Thường” là đóa hoa không trường cửu, hoa quỳnh vào ban đêm mau
nở mau tàn là một minh chứng rất rõ cho tính chất vô thường của vạn vật
và con người. Nhưng khi hoa nở thì là hoa đang hiện hữu, khi hoa tàn thì
lại biến thành sương vào ban ngày, bản chất của sương là nước. Vậy thì
sương hay nước vẫn là những dạng thức tồn tại vào ban ngày, dẫu là cũng
có một chút vô thường theo.




     Đến
đêm hoa quỳnh lại nở … Vậy phải chăng đóa hoa vô thường của nhạc sỹ họ
Trinh vẫn mang trong mình cái gì đấy thuộc miên trường?




     Phần còn lại của kết luận xin dành cho bạn đọc...




BVHH



Một góc nhìn về “Ðoá hoa vô thường



Phụ chú: Đôi nét về hoa quỳnh



     Cây
hoa quỳnh có tên khoa học Epihyllum oxypetalum (D.C.) Haw. Thuộc họ
xương rồng (Cactaceae). Cây không có lá, thân dẹp dài uốn lượn và có
khía, hoa mọc từ khía. Cây có nguồn gốc từ Châu Mỹ




     Hoa nở về đêm trắng toát, thơm, hoa ăn được…
     

Trong thú chơi quỳnh, các cụ cũng uống rượu chờ hoa nở, vì hoa nở có
giờ, khoảng 9 - 10 giờ đêm, hoa nở rất nhanh, xòe ra 1 - 2 giờ rồi cụp
lại …


     

Quỳnh thường được trồng vào chậu để khiêng đi khiêng lại xem hoa dễ
dàng. Trồng bằng cách cắm cành vào mùa xuân. Trồng ra bồn, ra đất đều
được. Chịu nắng chịu hạn rất tốt.



     Theo
truyền thuyết, thời nhà Tùy, Tùy Dạng Đế hôn quân vô đạo, trác táng, xa
hoa, phung phí, đêm nọ nằm mơ thấy một cây trổ hoa đẹp. Đúng lúc đó, ở
chùa Dương Ly thành Dương Châu đang đêm bỗng có ánh sáng như sao sa và
hương thơm sực nức lạ lùng khiến dân chúng đổ xô đến xem. Cạnh giếng
nước trong sân chùa mọc lên một cây lạ, nở một đóa hoa ngũ sắc với 18
cánh to ở trên, 24 cánh nhỏ ở dưới, hương ngào ngạt bay tỏa khắp nơi
nơi. Dân chúng đặt tên là hoa Quỳnh.





(nguồn: http://www.nhipcautamgiao.net- ST sưu tầm)






Một góc nhìn về nhạc phẩm “Đóa hoa vô thường” (P2)- BVHH - Góc kỷ niệm Phố núi...

COMMENTS G+/FB

0 Comment:

CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH:

    • Mục lục:
    • Theo thể loại
    • Theo tác giả
    • Theo thời gian