Nơi giao lưu, tản mạn... cùng bạn hữu yêu văn học nghệ thuật gần xa.
Không bao giờ quá sớm để kết bạn & quá muộn để yêu - Sandy Wilson

Phạm Ngọc Thái với những tình thơ sâu nặng nỗi đời- Nguyễn Đình Chúc

PHẠM NGỌC THÁI
          VỚI NHỮNG TÌNH THƠ SÂU NẶNG NỖI ĐỜI













                         Đọc "Phê bình & tiểu luận thi ca", Nxb Văn hoá Thông tin 2013



                                                          NGUYỄN ĐÌNH CHÚC

                                                                          giới thiệu




https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhA_tCXpnTZfHjH26jLXlwUFBlsDMQxBitT4ZhA9fklBQL1gfPMJ3CzK32zqqBko1Pli56UGvjjQPiCEvQJ2HZGVdkE2tLxcCXxcpuziR11_gIyrrfpnbpFg6Y5mQDatauezuwXI1bpLN-4/s1600/491+copy.jpg



     Phạm
Ngọc Thái không chỉ sáng tác được nhiều bài thơ tình hay, mà thơ về nỗi
đời dân gian, kiếp người của anh không ít bài cũng đạt sự viên mãn để
tạo thành những thi phẩm súc tích, có bài đến hoàn bích: Làm ma em vợ, Nỗi trăn trở người đi tìm vàng, Em bán xoài, Cỏ hoang, Em bé cầu bơ, Cô quét lá đêm hồ...

 













   
Đọc "Phê bình & tiểu luận thi ca - Phạm Ngọc Thái" mới phát hành
cuối năm qua, một cuốn sách khá hoành tráng, bề thế... dày gần 300
trang.  Trong PHẦN II - THƠ PHẠM NGỌC THÁI VỚI LỜI BÌNH - Có tới 34 bài
thơ đạt độ khúc triết, đã được cả thảy 28 tác giả vừa văn nghệ sĩ, nhà
giáo cùng các đấng trí thức khác viết lời bình. Mặc dù vẫn còn một số
bài thơ không kém phần hay trong tuyển thơ đồ sộ của anh, hiện chưa có
lời bình nên chưa đưa vào được trong tập bình luận thi ca lần này. Song,
chỉ riêng một nhà thơ mà đạt được số lượng những bài thơ sâu sắc hoặc
hay ở những cung bậc khác nhau nhiều như thế, cũng có thể nói đó đã là
một chân dung thi nhân vào hàng siêu đẳng rồi.




















 
   
Trong bài viết nhận định "Phê bình & tiểu luận thi ca - Phạm
Ngọc Thái" vừa qua của cô giáo Nguyễn Thị Hoàng, cũng mới đăng trong
năm, cô giáo đã trích từ tác phẩm hai bài bình thơ của hai tác giả để
giới thiệu cùng bạn đoc:








         1. Nhà văn Đào Viết Minh luận bàn về "Làm ma em vợ" - một bài thơ khóc tang khúc triết.









         2. Nhà giáo Diễm Loan thì bình bài thơ tình sâu sắc "Khóc bên Hồ Núi Cốc".


  
Ở bài viết này, tôi chỉ xin nói riêng về mảng thơ đời hay của thi nhân
được in trong tập bình luận thi ca đó. Như nhà văn Đào Viết Minh khi
bình Làm Ma Em Vợ đã có nhận xét rằng: 





















     "...
Trước những cảnh đời còn bao thương tâm, oan nghiệt, phi lý, bất công
vẫn đè nặng lên lớp nhân quần lương thiện - Bài thơ tuy cũng dựa trên
một nỗi đời cụ thể, nhưng nó có cấu trúc của một bài thơ tượng trưng,
nhuốm đầm sắc thái dân gian, theo quan điểm nỗi kiếp đoan trường của cụ
Nguyễn Du...


 

















    Hay là:    
Cái nạn kiếp người nơi hạ tầng của chúng sinh thời nào mà chẳng khổ?
Trải qua những thăng trầm, bể ải nơi nhân tình thế sự, chiêm nghiệm
trong thẳm sâu tâm linh của cuộc đời mình, thấm đẫm về chữ "kiếp" luân
hồi... để nỗi xót thương từ trong lòng tác giả trào ra".


 

















    
Tức là nhà thơ đã nhìn đời bằng con mắt của những người lao khổ. Có khi
còn chĩa mũi dùi vào đả phá những kẻ làm chính trị nhưng đạo đức giả,
thậm chí là loạn luân. Như ở bài "Cỏ hoang" viết:




















                      Nhà chính trị cùng đứa du côn tranh thủ chơi thánh nữ
                      Em vũ ba lê trong thế giới hỗn mang gieo hoa cấy linh hồn...









   
Để nói về một cô gái trong cái đám người phải đi xuất khẩu lao động,
thực chất là những kẻ làm thuê cuốc mướn ở nước ngoài, tha phương cầu
thực vì miếng cơm manh áo - Cô gái đã trở thành một thứ trò chơi, nạn
nhân của xã hội đang xuống cấp tận cùng. Cái thế giới nhân quần được gọi
là "trần gian" kia:




















                      Hỡi Thiên đường - Địa phủ: Trần gian
                      Loài người mãi sao tràn lan tội ác?









  
Biết bao sự bất công, tàn bạo xô đẩy lớp chúng sinh vào cảnh khốn quẫn.
Đấy là nhân sinh quan của Phạm Ngọc Thái. Thí dụ như ở trong bài "Em bé
cầu bơ" - Nói về cảnh tết của một thân phận vất vưởng, lang thang nơi
đường phố:


















                      Tối ba mươi lò than phở đã nguội rồi
                      Em bé cầu bơ không nơi ngồi sưởi ấm.






                      Đêm giao thừa người chúc nhau nhiều may mắn
                      Dưới gốc cây già một bóng nhỏ nhuộm màu đen.



    
Hình ảnh một đứa bé cầu bơ, cầu bất trong đêm giao thừa, không nhà
không cửa, ngày đi xin ăn, khuya về ngủ nhờ bên cái lò phở lấy chút hơi
ấm để qua đêm. Nhưng đêm ba mươi hầu hết các cửa hiệu đều đóng cửa, lò
than cũng không còn được đốt nữa. Đứa bé không còn chỗ nào để sưởi ấm
tấm thân còm.  Chỉ bằng 4 câu mà tác giả khắc họa sâu sắc đến mức điển
hình. Người ta chỉ còn nhìn thấy một cái bóng đen, cũng được gọi là sự
sống ấy đang co quắp vì giá lạnh dưới một gốc cây già. Chính là cái màu
đen của cả một kiếp người, những thân phận thấp hèn của chốn nhân gian.
Đọc
lên trái tim ta quặn đau, không khỏi xót xa. Rõ ràng từ một hiện thực
cuộc sống được tác giả khái quát thật cô đọng mà vẫn đầy cảm xúc. Tầm
vóc của bài thơ không nhỏ một chút nào. 









    
Nói về bài "Nỗi trăn trở người đi đi tìm vàng", cũng viết về những
người xuất khẩu lao động, làm thuê ở nước ngoài. Thông qua sự trăn trở
bản thân, nhà thơ đã đi sâu vào nỗi lòng của những người lao khổ. Nó
phục lại một bối cảnh đầy mâu thuẫn, trước những cảnh tượng diễn ra nơi
đất khách, quê người. Nhiều nơi, nhiều chỗ tranh giành, dối lừa nhau như
cảnh chợ giời. Đạo lý thì bị tha hoá, xã hội xuống cấp - Có thể đó đã
thuộc vào hàng lớp chúng sinh ở tận cùng đáy xã hội rồi:

















                     Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ                     

                     Đứa mách qué lại vân vi dễ sống...








   Cuộc sống của những con người lương thiện đó đã phải:











                    Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ


    
Là một màn bi hài của xã hội và cuộc đời. Rồi tác giả lý giải về mục
đích mà những nỗi đời đáng thương đó đã phải chịu đựng:

















                    Nhưng tôi đã có một thỏi vàng, thứ vàng rất thật                    

                    Đánh một đoá hồng vàng tôi trao đứa con thơ






                    Người vợ quê hương mỏi mắt đợi chờ









                    Một chút nữa với bạn bè, thân hữu...



     Như một nhà bình luận khi nhận xét về bài thơ "Nỗi trăn trở người đi tìm vàng" này, đã nói:





 
-  Tiếng thơ đau mặn đắng hơn cả dòng nước mắt. Nó phục lại một hiện
thực xã hội bị suy thoái, xuống cấp. Dung lượng thơ có sức chứa tính
thời đại rất lớn. Giá trị nhân văn cũng như tính điển hình xã hội rất
cao, v.v....


 














   
Để tiếp tục giới thiệu tập "Phê bình & tiểu luận thi ca - Phạm Ngọc
Thái" vừa xuất bản đó - Tôi xin trích thêm hai bài bình, nói về mảng thơ
đời sâu sắc của thi nhân, đã được hai tác giả là Hoàng Ngọc và Trần
Ngọc Lâm viết lời bình, bạn đọc cùng thưởng lãm:


 














    1. Trước hết nói đến bài thơ viết về những kiếp đời gió bụi lang thang, nhà thơ đã từng gặp trên bãi biển Nha Trang:






Em bán xoài

                  


EM BÁN XOÀI



- Anh trai mua xoài cho em đi?

Nha Trang! Ta nhớ Nha Trang!



Em bán xoài đi đêm trên cát trắng

Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang

Dưới hàng dừa se sẽ gió ru êm

Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh.



Xoài em chín. Đêm tàn canh em đón khách…

Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi

Em bán xoài thơm! Em bán xoài thơm!

Biển to lớn. Bóng em nhỏ thẫm.

Linh hồn treo ngoài thế giới em đi

Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?



Thế giới em đi “vòng thiên la địa võng“

Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi

Xoài em thơm. Hương toả mát thân người...

Ai mua xoài? Còn ai có mua em?


Các cô gái đi đêm như các cột đèn

Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...

Biển ru ta và ta ru em

Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm.






                              
Phạm Ngọc Thái






               Lời bình TRẦN NGỌC LÂM:




      
Theo nhà thơ kể lại, trong một dịp
đi qua thành phố Nha Trang những ngày sau chiến tranh. Khi đó anh vẫn
còn trong quân đội ở chiến trường miền Nam. Vào một buổi tối, anh
cùng với một nhóm sĩ quan đi ra chơi trên bãi biển và... đã gặp
những cô gái "bán xoài".  Một em gái trẻ dễ thương, thân hình bó
lẳn trong chiếc áo cánh chẽn mềm mỏng tới mời anh. Không hiểu sao lúc đó
anh
lại từ chối? để rồi bao nhiêu năm tháng qua đi, hình ảnh người con gái
ấy cùng
với những kiếp đời sương gió cứ đọng mãi, in sâu vào kí ức nhà thơ thành
kỉ
niệm. Tới một ngày những xúc động xưa lại quay về và... bài thơ Em Bán
Xoài đã
ra đời: 





                 
  Em bán xoài đi đêm trên cát trắng

                   
Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang 




      Đó là những thân phận lạc loài, nổi trôi trong
bể tình thế thái này. Linh hồn gần như không có nơi bám víu, nhỏ bé và yếu ớt,
trong cả biển đời đầy sóng bão chỉ muốn nuốt chửng lấy chúng: 




                   
Biển to lớn. Bóng em nhỏ thẫm.

                   
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi

                   
Trên những cành dừa hay trong đám mây qua? 




     Tác giả tả về cái thế giới mà các cô gái đang đi, đang
sống trong đó - Chính là thế giới của chúng ta, nhưng sao nó thật hãi hùng:




                  
 Thế giới em đi “vòng thiên la địa võng“

                   
Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi...




      Phải chăng cái thế giới đó cứ muôn đời vùi dập
lên những kiếp cảnh chúng sinh? Phải
chăng bài thơ chính là tiếng gào thét, lên án sự tàn ác còn tồn tại trong cộng
đồng? Nó giống như con bạch tuộc cứ bủa vây đám dân dã, những lớp người nghèo
hèn sống hôm nay không biết đến ngày mai. Mặc dù sự tồn tại của thế giới đó
chính phải nhờ vào hương thơm trái xoài và sự tươi  mát của những người
con gái kia. Thế mà: 




                
   Ai mua xoài? Còn ai có mua em?  




    
Biển càng to lớn mênh mang thì bóng hình những người con gái bé nhỏ ấy càng côi
cút. Bên bóng của những chiếc cột đèn đứng trong đêm thành phố cũng thật lạnh
lẽo, nhập hoà vào những thân phận tội nghiệp, đáng thương, để cùng vô vi trong
cát bụi cuộc đời: 




                 
  Các cô gái đi đêm như các cột đèn

                   
Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...


     Hay là:

                   
Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh




     Thơ từ những hình ảnh hiện thực chuyển sang siêu thực,
cuối cùng chỉ thấy một bờ cát trắng là tồn tại. Những giọt thơ buồn của nhà thơ
rơi lên các linh hồn bèo bọt ở chốn nhân quần:




                   Xoài
em chín. Đêm tàn canh em đón khách...

             
     Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi
     
 




    Như thế là những thăng trầm của lịch sử và xã hội, cũng chỉ
giống như chiếc túi càn khôn cứ nghiến xiết đám dân lành tội nghiệp. Bài thơ
được kết thúc trong những lời ru, sự cảm đồng của hàng dừa quê hương cùng với
nỗi lòng tác giả bên người con gái bán xoài: 




                 
  Biển ru ta và ta ru em

                   
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm. 




      Ba chữ "xứ sở gió..." diễn tả
sự da diết gắn bó của trời đất quê hương với con người, nhưng đồng thời nó cũng
thật hoang lạnh, vô tình. Em Bán Xoài vừa là một bài thơ đời vừa là thơ tình. Cảm
xúc thơ mạnh và súc tích, giàu tính nhân ái… với những kiếp đời gió bụi lang
thang.

                                                                TNL.


                                Trích "Phê bình & tiểu luận thi ca - Phạm Ngọc Thái"




















         2. Một bài thơ đời dân gian sâu sắc khác:
   


CÔ QUÉT LÁ ĐÊM HỒ





PHẠM NGỌC THÁI với những tình thơMột đêm hồ nước đầy
sương gió

Người đi không rõ mặt người

Liễu ru nhè nhẹ quanh bờ vắng

Em thầm thì quét lá, bên tôi!




Em quét lá lẫn đời
lẫn kiếp

Tiếng chổi mòn kêu xiết vào tim!

Em hóa thành thơ rơi lặng lẽ

Trong cõi lòng tôi buồn triền miên.


Trăng như đứa không
nhà trôi lạc lõng

Con nai vàng chết
bóng thu xưa…

Tôi đứng trông em mịt mờ ảnh vọng

Cô quét lá đêm hồ khe khẽ vào khuya.


                               
       Phạm Ngọc Thái


                                


                     Lời bình
HOÀNG NGỌC:




 
     Vào một đêm trời đầy sương gió, tác giả đã gặp cô quét
lá bên hồ nước, chính là người quét rác trong phố khuya. Đó là những con người
lao khổ, cuộc sống cũng giống như những chiếc chổi tre ngày tháng quét lê trên đường
để mòn vẹt dần đi:


 



                  
  Em quét lá lẫn đời lẫn kiếp

                    
Tiếng chổi mòn kêu xiết vào tim!




       Cái tiếng chổi đời, chổi kiếp ấy kêu
xiết vào trái tim người thi sĩ, để những giọt thơ từ trong anh rơi ra. Thông
qua bức chân dung Cô Quét Lá Đêm Hồ, nhà thơ muốn phản ánh cuộc sống cùng nhân
ảnh của những con người lao động trong cõi dân gian. Giữa khối lòng buồn tình
buồn của nhà thơ, nhưng lại ở trong cõi mộng. Nó mơ mộng đến mức hình ảnh cô
quét lá trên đường hóa thành như tiên nữ từ trong tranh bước ra, lặng lẽ đi vào
bến bờ thi:


    
               Em
hóa thành thơ rơi lặng lẽ

                   
Trong cõi lòng tôi buồn triền miên




 
    Tấm hình của bức chân dung trở thành siêu thực. Siêu thực
theo đúng nghĩa của nó: thực mà đã siêu trần. Cảm giác vừa xa xót, vừa mộng mơ
hòa quyện trong tâm hồn tác giả như ở đoạn thơ hai ta vừa phân tích, tạo thành
nhân cốt của bài thơ. Nhưng đây là "nhân cốt đời"!
 


    Sở dĩ tôi nói “nhân cốt đời“ bởi vì: nếu ta phân tích tới
hai câu đầu của đoạn thơ thứ ba, sẽ lại gặp một nhân cốt  khác nữa, nhưng
nó đã là những hình ảnh mang tính tượng trưng ra khỏi bến trần ai thường tình:
             




             
       Trăng như đứa không nhà trôi lạc lõng

                    
Con nai vàng chết bóng thu xưa..    
  




   
Nhà thơ tâm sự: nhìn sâu vào trong đêm đó, giữa anh và cô quét lá đêm hồ ấy như
có hai khoảng đời cách biệt. Một đằng anh thi sĩ mộng mơ, còn em lại đang quét
lá rơi. Nói một cách khác, em đang lao động kiếm sống vì miếng cơm manh áo, còn
tâm trí nào mà cảm đồng với những xúc cảm lãng mạn của nhà thơ? Chung quanh
tiếng lá cây reo nghe bình thản một cách rờn rợn, lạnh lùng. Bóng trăng trên
đầu cũng trở nên nhợt nhạt, côi cút trong cả khoảng không gian vô tận, vô bờ.
Cô quét lá có cô đơn không, nhà thơ không biết? Cô cứ thầm thì lặng lẽ quét,
chẳng hề để ý đến sự có mặt của anh lúc đó. Nhà thơ thấy chính lòng mình cô
đơn! Câu thơ:




      
             Trăng
như đứa không nhà trôi lạc lõng 




     
Đã ra đời như thế. Bóng trăng trên đầu đã được hóa thân để kết hợp với câu thơ
dưới:
 


                   
Con nai vàng chết bóng thu xưa...

 


     Tạo nên những hình ảnh đồng điệu. Nhưng nguyên nhân vì
sao lại có cảnh con nai vàng bị chết giữa bóng của rừng thu? Từ nỗi đời mà ra.
Hình ảnh cô quét lá cứ quét ngày, quét tháng cũng như chiếc chổi tre năm
tháng  mòn vẹt dần, còn con người thì lại... "không nhân ảnh".
Vậy những kẻ bần khổ ấy làm gì có tâm hồn mà mộng với sầu như cố thi nhân Lưu
Trọng Lư, để mơ đến cảnh bóng con nai vàng của Tiếng Thu kia? Thế là từ cảnh
ngang trái của đời nảy ra ý ngược thơ: con nai vàng phải chết!




    
Con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô... trong thơ cố thi nhân, nó bọc
chứa cả thế giới huyền ảo như cổ tích nằm bên trong tình thơ. Còn hình ảnh
"con nai vàng chết" của bài thơ Cô Quét Lá Đêm Hồ này, ý nghĩa xã hội
lại nằm bên ngoài tình thơ, để phản ảnh tới sự mất mát cả giá trị đời sống cũng
như tinh thần của người lao động. Đây là hai câu thơ hay nhất bài, nâng tầm vóc
của bài thơ cao lên!
 


    Tôi xin quay trở lại bình đoạn thơ mở đầu:



                  
  Một đêm hồ nước đầy sương gió

                    
Người đi không rõ mặt người
 


     Miêu tả cảnh trời sương gió (nghĩa đen), để phản ảnh cảnh lầm lụi gió sương của
những con người lao động đang lặn lội ở đó (nghĩa bóng). Hình ảnh hồ nước biểu tượng về nước non xứ
sở, mảnh đất mà mồ hôi họ đã tắm vào trong đó. Thế mà họ lại:




                  
  Người đi không rõ mặt người…




    
Đấy chính là nhân ảnh của dân gian, chẳng khác nào những kiếp phù du? Nghĩa là
bài thơ không dừng lại ở thân phận cô quét lá. Nhà thơ đã chạnh lòng nghĩ đến
những kiếp đời của chốn nhân quần, cái lớp người thời nào mà chẳng phải
chịu những sự bất công? Sống vật vã suốt đời chỉ để lo miếng cơm, manh áo cũng
không xong. Đến cuối bài thơ hình tượng nhân ảnh mờ mịt này còn được tác giả
nhắc lại một lần nữa:
 


                    
Tôi đứng trông em mịt mờ ảnh vọng

 


     Suốt dọc bài thơ: từ không gian gió sương hay cuộc sống
con người, cái chổi tre, vầng trăng, đến cả bóng con nai vàng...
đều là những
hình ảnh mang theo hàm ý biểu tượng. Ta hãy nghe tác giả tả về cảnh liễu hồ:
 


                  
  Liễu ru nhè nhẹ quanh bờ vắng

                  
  Em thầm thì quét lá, bên tôi!

 


     Cái tiếng liễu đìu hiu ru quanh hồ vắng bên những bước
đi âm thầm của cô quét lá: cảnh ấy, đời ấy... như Nguyễn Du đã viết:




                    
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ




     
Đã được hòa tấu bằng một giọng thơ trầm lắng và hơi hiu hắt. Có lẽ chỉ
những rặng liễu kia đã cùng thức để cảm đồng với nhà thơ mà lặng lẽ ru cuộc đời
cô quét lá? Đưa ta vào khoảng không gian thật mơ hồ, nửa thực, nửa không. Nhà
thơ xót với nỗi đau đời mà hóa buồn chăng? Chính trong tâm trạng ấy, cô quét lá
đêm hồ thành thơ rơi vào cõi lòng anh.
 


     Ở ngoài kia, xa kia, cô quét lá vẫn đang lặng lẽ quét,
lặng lẽ đi, khuất dần vào trong màn sương tối. Khoảng không gian giờ đây chỉ
còn nghe thấy những vần thơ của thi nhân vẫn vọng lên ở đó, với một bóng trăng
ngàn thu cô đơn soi mãi trên đầu đi vào cõi muôn năm...





                                                                          HN.



                                                             Trích "Phê bình & tiểu luận thi ca - Phạm Ngọc Thái"

Phạm Ngọc Thái với những tình thơ sâu nặng nỗi đời- Nguyễn Đình Chúc - Góc kỷ niệm Phố núi...

COMMENTS G+/FB

0 Comment:

CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH:

    • Mục lục:
    • Theo thể loại
    • Theo tác giả
    • Theo thời gian