Tập thơ "Đôi hồn" và một thiên diễm tình- Phạm Ngọc Thái
TẬP THƠ "ĐÔI HỒN" VÀ MỘT THIÊN
DIỄM TÌNH
Phạm Ngọc
Thái
Tập thơ "Đôi hồn" là sản phẩm thi ca của một mối tình
đã được thăng hoa giữa thi nhân Hàn Mặc Tử (HMT) cùng nữ sỹ Hoàng Yến
- Mai Đình (MĐ), mối tình ấy diễn ra cũng như thơ của cả hai người đều đã được
viết từ trước đây hơn nửa thế kỷ.
Bây giờ ở trên đỉnh cao Gành Ráng, Qui Nhơn bên bờ
biển Đông, mộ của thi nhân HMT quanh năm sóng phủ. Thơ của Người đang được nhân
gian truyền tụng như những vì sao sa sáng láng. Đúng như lúc đương thời Người
viết:
Với sao sương,
anh nằm chết như trăng
Nhưng khi còn trong cõi
sống, Người đã phải chịu bao nhiêu khổ hạnh vì bệnh tật. Tạo hoá đã cướp đi một
tài hoa lúc đương độ rực rỡ, khi cuộc đời Ông mới chỉ vừa 28 tuổi. Ngẫm thế:
kiếp người có khác gì kiếp nợ! Phải chăng muốn hoá siêu nhân... thì trước hết con
người phải chịu đựng những sự đầy đoạ ở phàm trần? Nhưng thế giới sinh linh này
cũng thật huyền diệu và bí ẩn, chính thiên diễm tình ấy lại nẩy nở trong hoàn
cảnh khắc nghiệt nhất của cuộc sống. Khi mà thi nhân lâm vào căn bệnh phong ác nghiệt, thì
nàng Mộng Cầm (người con gái quê Phan Thiết đã từng một thời yêu thi nhân) lại
bỏ đi lấy chồng... đẩy thi nhân thêm vào cảnh đau đớn, cô đơn.
Trời đất đã cho một ái nữ khác đến với Người. Theo như lời kể của Đắc Trung
(trên báo Phụ nữ Việt Nam số 28 ra ngày 11-1-1994 ), thì ái nữ ấy:
"Xuất
thân trong một gia đình quan lại quê Nông Cống, Thanh Hoá. Thân phụ nhận chức
tại Phan Thiết, mười sáu tuổi sống bên cha, sau này vào ở Sàigòn. Cô thiếu nữ
ngây thơ xinh đẹp, rất được cưng chiều...)
Chính là nữ sỹ Hoàng
Yến - Mai Đình. Nàng lại còn thông tuệ về văn thơ
cùng với Người để tạo nên một thiên bi tình khả ái, với tập thơ "Đôi hồn" lai láng yêu đương. Tập thơ ấy được thi nhân
cùng người nữ sỹ giao lưu trong mối tơ duyên và viết suốt ba năm (1937-1940):
gồm 54 bài (kể cả hơn chục bài thơ mà bà Mai Đình viết sau này, khi HMT đã
qua đời ngày 11-11-1940).
Đến nay năm tháng trôi
qua, cuộc đời riêng chung biết bao biến đổi, nhưng lòng người nữ sỹ vẫn:
Nói sao cho xiết nỗi
buồn?
Một trời binh lửa, một hồn cô liêu.
Hồn tôi theo đám mây chiều,
Tìm
chàng trong một túp lều tranh con.
( Âm thầm -
MĐ )
Đó chính là cái túp lều tranh ở Gò Bồi trên
một khu cát rộng phía Tây thành phố Qui Nhơn. Cách đây trên nửa thế kỷ (1939)
người nữ sỹ đã đến thăm thi nhân khi ông mắc bệnh hiểm nghèo, phải sống lẩn
tránh cả chính quyền địa phương. Vì bệnh lây nên chính quyền buộc gia đình phải
đưa HMT vào bệnh viện "cùi" Qui Hoà để chữa bệnh và ẩn náu,
cách biệt tất cả mọi người. Đó cũng là lần đầu tiên Nàng mới gặp mặt người
yêu, vì trước đó đôi năm tình yêu của hai người chỉ trao đổi qua các áng thơ, như
Nàng kể lại:
- Đến trước túp lều tranh xơ xác,
xiêu vẹo... vén tấm mành che cửa... một người đàn ông nhỏ bé, gầy yếu, ngồi trên
chiếc giường chõng, cạnh bàn viết. Bàn là một tấm gỗ thùng đặt trên khung chân
cũ. Người đàn ông ngước đôi mắt đen sáng long lanh nhìn tôi dò hỏi. Tôi đứng
lặng đi. Hàn Mặc Tử đấy ư? ...
Nàng tả về
đôi mắt trong sáng như hai ngôi sao của thi nhân, tấm thân thì ốm yếu tàn tạ,
nhưng thông minh và cám dỗ. Vâng, nàng đã yêu trong hoàn cảnh ấy:
Em theo mây gió anh
ơi,
Em
đi đi mãi vào nơi vô hình...
Yêu anh trên bước phiêu linh,
Để lòng bớt khổ, để tình
bớt đau.
( Biệt ly - MĐ )
Mặc dù chỉ
là một nữ nhi khuê các nhưng sức mạnh tình yêu của nàng không gì ngăn
cản nổi, hoàn cảnh càng khắc nghiệt thì tình nàng càng đằm thắm, thiết
tha:
Yêu anh trong lúc anh
lâm chung,
Mới thấy tình em yêu lạ lùng.
( Anh hứa đi anh - MĐ )
Vượt lên trên tất cả sự chỉ trích của người đời:

Kịp nghĩ miệng đời hay mỉa
mai,
Tảng lờ ngừng bước và im hơi,
Mộng hồn em gửi theo chiều gió
Để được gần anh ngỏ ít
lời.
( Biết anh - MĐ )
Ta cảm thấy rợn tóc gáy, không thể
không khâm phục ý chí quyết
liệt trước lời tuyên bố của nàng:
Tôi chẳng sợ cảnh nghèo hèn đói
khổ,
Tôi không kiêng thứ da thịt khác người
(vì HMT mắc bệnh hủi)
Vì lòng tôi, tôi chỉ
biết yêu thôi !...
(Tuyên bố - MĐ)
Hoàn cảnh bi ai, sầu thảm thế nhưng tình nàng không chỉ
đằm đìa mà còn trong sáng, mộng mơ một cách lạ kỳ:
Yêu anh chết nửa cõi
lòng,
Gửi hồn bay bổng mấy tầng mây xanh.
(Tơ sầu - MĐ)
Còn thi nhân
HMT, người
yêu của nàng cũng mộng mơ không kém:
Dưới túp lều tranh, trên chõng
tre,
Tứ bề cửa khép với phên che,
Kéo mền ủ kín toàn thân lại,
Để thả hồn bay gửi mộng
về.
(Hãy đón hồn anh - HMT)
Cảnh ngộ thì khổ sở, nghèo hèn nhưng tâm hồn họ thật thanh tao,
hoành tráng biết bao. Đúng là: "Một túp lều tranh, hai trái tim vàng"!
Mai Đình đáp lại:
Bây
giờ em đã bên anh
Đói nghèo em chịu, rách lành cũng
vui.
(Em vẫn bên anh - MĐ)
Tuy vậy, nhưng nào họ có được ở bên nhau! Chỉ thăm người yêu ít
ngày rồi nữ sỹ lại phải chia tay về gia đình tận Sàigòn. Hàn Mặc Tử với bệnh
tình đành nằm lại trong túp lều tranh ở Qui Nhơn, người phương Bắc kẻ phía
Nam. Hoàn cảnh đã khắc nghiệt mà không gian ly biệt thì xa vời, nhớ nhau cũng
chỉ biết:
Anh
đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười.
(Lưu luyến - HMT)
Nhưng theo dõi hồn thơ ta có cảm nhận như đang gặp một cuộc tình
duyên nơi chốn cung động thiên thai nào đó, chứ không phải ở trần tục đời
thường. Thi nhân viết:
Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng
mắt.
Hay
là:
Quí như vàng,
trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái
thế...
(Thắm thiết - HMT)
Nàng thì ví mình như Ngọc Nữ còn chàng là Kim Lang: vì để rơi
chén vàng cho nên Ngọc Hoàng đẩy xuống trần thế, mặc dù nay đã hết hạn họ vẫn
quyết ở lại bên nhau không về tiên giới:
Ta đã ở bên chàng nơi cõi
tục,
Quyết không về điện ngọc sống cô đơn!
Để rồi:
Bốn bàn tay cùng chung xây hạnh
phúc,
Túp lều tranh hơn cõi thiên đường.
(Hạnh phúc - MĐ)
Và tình yêu ấy đã đạt đến độ say đắm, giông bão khôn cùng:
Tôi ôm nàng, muốn cắn
chết nàng đi!
(Thắm
thiết - HMT)

Nữ sỹ Mai Đình kể lại khi họ gặp
nhau:
- Vì sợ lây bệnh cho người yêu, nên Hàn Mặc
Tử không dám đụng vào người Mai Đình...
Nàng
nói:
- Những phút ấy mặt Hàn Mặc Tử đỏ rần lên rồi
tím đi, còn Mai Đình cũng chết cả ruột gan không biết phải xử trí làm sao?
Thật là đau khổ và hy vọng:
Anh lành anh sẽ tặng em chi
?
Tặng
cả đời anh cả hồn thi,
Với tất những gì anh ước vọng,
Cả hồn, cả xác, cả tình
si.
(Anh hứa đi anh - MĐ)
Nhưng cũng như tình thường của bao đôi trai gái khác, tình yêu
không chỉ có quấn quít "đôi hồn" mà cũng có lúc ghen tuông:
Em muốn thu anh thành vật
nhỏ
Để
em nắm kín ở trong tay...
Cho các cô nường hết ngất ngây.
(Ghen - MĐ)
Trong bài
"ghen với Mộng Cầm" ta còn nhận thấy mặc dù Mộng Cầm là người con gái đã đến
trước, được hưởng đầy đủ khoái lạc của tình yêu lúc thi nhân đang lành lặn, mà
lại ruồng bỏ khi Người lâm bệnh. Nhưng với tư cách của Mai Đình vẫn tỏ ra là
người tao nhã, trang trọng: ghen đấy mà không phỉ báng còn cảm thông với lẽ đời
thường của một tấm lòng nhân hậu, khoan dung độ lượng:
Mộng Cầm hỡi, nàng là tiên rớt
xuống,
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay, sung sướng biết
bao vàn,
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ
thiếu?
(Ghen với Mộng Cầm - MĐ)
Đã bộc lộ tình cảm day dứt của một người con gái tha thiết yêu mà
tâm sinh lý không được thoả mãn. Hàn Mặc Tử có lúc cũng không ra khỏi sự nghi
kỵ, dằn vặt đời thường. Có lúc ông nghi oan người yêu có tình ý với người khác,
buông ra những lời thơ hờn giận:
Mai tiên nữ! Đọc hồn ta cho rõ:
Đau không rên, chết cũng mặc mình
thôi!
Mối tình si đã lỡ vỡ tan rồi,
Ta chỉ biết lặng nhìn thiên hạ
khóc...
Hay
là:
Tim hồn ta
quằn quại giữa lầm than
Để trở lại những ngày đầy huyết lệ!
(Thầm lặng - HMT)
Sự mặc cảm đó cũng dễ hiểu: bản thân ông bệnh tật, người yêu thì
trẻ đẹp lại ở cách xa...
Hôm nay trong lẽ sống
thường tình trước mọi sự đổi thay, thăng trầm nhân thế... ta thưởng thức những
tri âm, tri kỷ ấy càng thấy thiên tình duyên trác tuyệt này như một sự lạ
cõi đời. Trong thời buổi kinh tế thị trường chi phối cả trong tình
yêu trai gái và những mối quan hệ xã hội khác, thì cuộc tình xưa hẳn như một
đài thơ diễm lệ, cho ta ngưỡng mộ và cảm phục!
Có phải chăng duyên ấy, phận này cũng đã là tiền định như khi nữ sỹ khóc
bên mộ Người vào tháng 4-1941 (khoảng nửa năm sau khi thi nhân tạ thế):
Em đã về đây bên mồ cát
trắng
Túp lều tranh muôn thưở đã chung đôi
Tự nghìn năm thượng đế định cho
rồi...
(Em đã về đây - MĐ)
Hay cảm vì phận mỏng, tình dở
dang, nàng than:
Anh ơi, xin hãy chờ em với!
Hết nợ rồi em sẽ trở về.
(Chắp lại đôi hồn - MĐ)
Ta chạnh nhớ tới câu thơ của cụ Nguyễn Du khi nàng Kiều than ở
sông Tiền Đường:
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây!
Về thơ của thi nhân HMT thì chúng ta đã biết nhiều. Ở
đây, qua tập thơ đôi hồn" còn cho chúng ta thưởng thức tài hoa của nữ sỹ Hoàng
Yến - Mai Đình... như Kiều Văn đã nhận xét trong lời giới thiệu tập thơ:
- Đó là một giọng thơ giản dị, chân thực mà sâu sắc, nồng
nàn... Là thứ thơ huyết lệ. Hàm chứa những tình cảm cao quí thiêng liêng, thuỷ
chung...Xứng đáng là tiền bối của thơ tình Xuân Quỳnh và các nữ sỹ khác sau
này.
Nói thế có lẽ vẫn chưa đủ, bút pháp thơ
của nữ sỹ Mai Đình có lúc quặn thắt, đau đớn như Nàng viết:
Nguyện để tang anh suốt một
đời!
Nhưng
trước tình yêu non sông đất nước, ta lại còn chứng nhận một phong cách cũng thật hào khí:
Chút nợ ân tình trả chưa xong
Đành mang tâm sự mãi bên
lòng
Sắt son đã chẳng cùng nhau trọn
Em phải đem mình gửi núi sông.
(Trăng cũ - MĐ)
Gợi ta
nhớ tơi âm hưởng những câu thơ đầy hùng khí, trác tuyệt của nữ sỹ Ngân Giang trong bài "Trưng nữ vương":
Ải Bắc quân thù kinh vó
ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch ngôi trời
bóng lẻ soi.
Vào năm 1996 - Báo chí đã đưa tin về nữ sỹ Mai Đình... khi đó Bà bước vào
tuổi thọ 80, Bà đã đến Gành Ráng, Qui Nhơn một lần nữa để thăm lại mộ của cố
nhân. Một lần nữa, những giòng lệ xót thương lại chảy tràn trên đôi mắt Bà
như thưở còn con gái, như câu thơ Bà đã viết:
Tóc trắng, tình xanh mộng chửa
tàn.
Khi đó
tuy tuổi đã già, cũng theo lời kể của Đắc Trung:
-
Nữ sỹ Mai Đình vẫn giữ được những nét đẹp kiêu sa, quí phái. Mái tóc dài bạc
trắng chải rất mượt, búi rất gọn. Da hồng, mắt sáng, miệng tươi. Giọng nói nhỏ
nhẹ mà đầy âm hưởng. Khăn hoa áo lụa hảo hạng...
Để kết thúc bài viết về thiên tình ca trác tuyệt có một không
hai này, tôi xin trích dẫn những lời thơ trăng trối của thi nhân Hàn Mặc Tử
viết để lại cho người yêu. Đấy cũng là những bút tích cuối cùng, trong thi
phẩm cuối cùng của Ông lưu lại cõi trần gian - Người đã "Trút linh hồn" trước lúc
đi xa:
Ta trút
linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây,
- Còn em, sao chẳng hay
chi cả?
Xin để tang anh đến vạn ngày!
-Phạm Ngọc Thái-
DIỄM TÌNH
Thái
Tập thơ "Đôi hồn" là sản phẩm thi ca của một mối tình
đã được thăng hoa giữa thi nhân Hàn Mặc Tử (HMT) cùng nữ sỹ Hoàng Yến
- Mai Đình (MĐ), mối tình ấy diễn ra cũng như thơ của cả hai người đều đã được
viết từ trước đây hơn nửa thế kỷ.
Bây giờ ở trên đỉnh cao Gành Ráng, Qui Nhơn bên bờ
biển Đông, mộ của thi nhân HMT quanh năm sóng phủ. Thơ của Người đang được nhân
gian truyền tụng như những vì sao sa sáng láng. Đúng như lúc đương thời Người
viết:
Với sao sương,
anh nằm chết như trăng
Nhưng khi còn trong cõi
sống, Người đã phải chịu bao nhiêu khổ hạnh vì bệnh tật. Tạo hoá đã cướp đi một
tài hoa lúc đương độ rực rỡ, khi cuộc đời Ông mới chỉ vừa 28 tuổi. Ngẫm thế:
kiếp người có khác gì kiếp nợ! Phải chăng muốn hoá siêu nhân... thì trước hết con
người phải chịu đựng những sự đầy đoạ ở phàm trần? Nhưng thế giới sinh linh này
cũng thật huyền diệu và bí ẩn, chính thiên diễm tình ấy lại nẩy nở trong hoàn
cảnh khắc nghiệt nhất của cuộc sống. Khi mà thi nhân lâm vào căn bệnh phong ác nghiệt, thì
nàng Mộng Cầm (người con gái quê Phan Thiết đã từng một thời yêu thi nhân) lại
bỏ đi lấy chồng... đẩy thi nhân thêm vào cảnh đau đớn, cô đơn.
Trời đất đã cho một ái nữ khác đến với Người. Theo như lời kể của Đắc Trung
(trên báo Phụ nữ Việt Nam số 28 ra ngày 11-1-1994 ), thì ái nữ ấy:
"Xuất
thân trong một gia đình quan lại quê Nông Cống, Thanh Hoá. Thân phụ nhận chức
tại Phan Thiết, mười sáu tuổi sống bên cha, sau này vào ở Sàigòn. Cô thiếu nữ
ngây thơ xinh đẹp, rất được cưng chiều...)
Chính là nữ sỹ Hoàng
Yến - Mai Đình. Nàng lại còn thông tuệ về văn thơ
cùng với Người để tạo nên một thiên bi tình khả ái, với tập thơ "Đôi hồn" lai láng yêu đương. Tập thơ ấy được thi nhân
cùng người nữ sỹ giao lưu trong mối tơ duyên và viết suốt ba năm (1937-1940):
gồm 54 bài (kể cả hơn chục bài thơ mà bà Mai Đình viết sau này, khi HMT đã
qua đời ngày 11-11-1940).
Đến nay năm tháng trôi
qua, cuộc đời riêng chung biết bao biến đổi, nhưng lòng người nữ sỹ vẫn:
Nói sao cho xiết nỗi
buồn?
Một trời binh lửa, một hồn cô liêu.
Hồn tôi theo đám mây chiều,
Tìm
chàng trong một túp lều tranh con.
MĐ )
Đó chính là cái túp lều tranh ở Gò Bồi trên
một khu cát rộng phía Tây thành phố Qui Nhơn. Cách đây trên nửa thế kỷ (1939)
người nữ sỹ đã đến thăm thi nhân khi ông mắc bệnh hiểm nghèo, phải sống lẩn
tránh cả chính quyền địa phương. Vì bệnh lây nên chính quyền buộc gia đình phải
đưa HMT vào bệnh viện "cùi" Qui Hoà để chữa bệnh và ẩn náu,
cách biệt tất cả mọi người. Đó cũng là lần đầu tiên Nàng mới gặp mặt người
yêu, vì trước đó đôi năm tình yêu của hai người chỉ trao đổi qua các áng thơ, như
Nàng kể lại:
- Đến trước túp lều tranh xơ xác,
xiêu vẹo... vén tấm mành che cửa... một người đàn ông nhỏ bé, gầy yếu, ngồi trên
chiếc giường chõng, cạnh bàn viết. Bàn là một tấm gỗ thùng đặt trên khung chân
cũ. Người đàn ông ngước đôi mắt đen sáng long lanh nhìn tôi dò hỏi. Tôi đứng
lặng đi. Hàn Mặc Tử đấy ư? ...
Nàng tả về
đôi mắt trong sáng như hai ngôi sao của thi nhân, tấm thân thì ốm yếu tàn tạ,
nhưng thông minh và cám dỗ. Vâng, nàng đã yêu trong hoàn cảnh ấy:
Em theo mây gió anh
ơi,
Em
đi đi mãi vào nơi vô hình...
Yêu anh trên bước phiêu linh,
Để lòng bớt khổ, để tình
bớt đau.
Mặc dù chỉ
là một nữ nhi khuê các nhưng sức mạnh tình yêu của nàng không gì ngăn
cản nổi, hoàn cảnh càng khắc nghiệt thì tình nàng càng đằm thắm, thiết
tha:
Yêu anh trong lúc anh
lâm chung,
Mới thấy tình em yêu lạ lùng.
( Anh hứa đi anh - MĐ )
Vượt lên trên tất cả sự chỉ trích của người đời:
Kịp nghĩ miệng đời hay mỉa
mai,
Tảng lờ ngừng bước và im hơi,
Mộng hồn em gửi theo chiều gió
Để được gần anh ngỏ ít
lời.
Ta cảm thấy rợn tóc gáy, không thể
không khâm phục ý chí quyết
liệt trước lời tuyên bố của nàng:
Tôi chẳng sợ cảnh nghèo hèn đói
khổ,
Tôi không kiêng thứ da thịt khác người
Vì lòng tôi, tôi chỉ
biết yêu thôi !...
Hoàn cảnh bi ai, sầu thảm thế nhưng tình nàng không chỉ
đằm đìa mà còn trong sáng, mộng mơ một cách lạ kỳ:
Yêu anh chết nửa cõi
lòng,
Gửi hồn bay bổng mấy tầng mây xanh.
Còn thi nhân
HMT, người
yêu của nàng cũng mộng mơ không kém:
Dưới túp lều tranh, trên chõng
tre,
Tứ bề cửa khép với phên che,
Kéo mền ủ kín toàn thân lại,
Để thả hồn bay gửi mộng
về.
(Hãy đón hồn anh - HMT)
Cảnh ngộ thì khổ sở, nghèo hèn nhưng tâm hồn họ thật thanh tao,
hoành tráng biết bao. Đúng là: "Một túp lều tranh, hai trái tim vàng"!
Mai Đình đáp lại:
Bây
giờ em đã bên anh
Đói nghèo em chịu, rách lành cũng
vui.
(Em vẫn bên anh - MĐ)
Tuy vậy, nhưng nào họ có được ở bên nhau! Chỉ thăm người yêu ít
ngày rồi nữ sỹ lại phải chia tay về gia đình tận Sàigòn. Hàn Mặc Tử với bệnh
tình đành nằm lại trong túp lều tranh ở Qui Nhơn, người phương Bắc kẻ phía
Nam. Hoàn cảnh đã khắc nghiệt mà không gian ly biệt thì xa vời, nhớ nhau cũng
chỉ biết:
Anh
đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười.
(Lưu luyến - HMT)
Nhưng theo dõi hồn thơ ta có cảm nhận như đang gặp một cuộc tình
duyên nơi chốn cung động thiên thai nào đó, chứ không phải ở trần tục đời
thường. Thi nhân viết:
Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng
mắt.
Hay
là:
Quí như vàng,
trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái
thế...
(Thắm thiết - HMT)
Nàng thì ví mình như Ngọc Nữ còn chàng là Kim Lang: vì để rơi
chén vàng cho nên Ngọc Hoàng đẩy xuống trần thế, mặc dù nay đã hết hạn họ vẫn
quyết ở lại bên nhau không về tiên giới:
Ta đã ở bên chàng nơi cõi
tục,
Quyết không về điện ngọc sống cô đơn!
Để rồi:
Bốn bàn tay cùng chung xây hạnh
phúc,
Túp lều tranh hơn cõi thiên đường.
(Hạnh phúc - MĐ)
Và tình yêu ấy đã đạt đến độ say đắm, giông bão khôn cùng:
Tôi ôm nàng, muốn cắn
chết nàng đi!
thiết - HMT)
Nữ sỹ Mai Đình kể lại khi họ gặp
nhau:
- Vì sợ lây bệnh cho người yêu, nên Hàn Mặc
Tử không dám đụng vào người Mai Đình...
Nàng
nói:
- Những phút ấy mặt Hàn Mặc Tử đỏ rần lên rồi
tím đi, còn Mai Đình cũng chết cả ruột gan không biết phải xử trí làm sao?
Thật là đau khổ và hy vọng:
Anh lành anh sẽ tặng em chi
?
Tặng
cả đời anh cả hồn thi,
Với tất những gì anh ước vọng,
Cả hồn, cả xác, cả tình
si.
(Anh hứa đi anh - MĐ)
Nhưng cũng như tình thường của bao đôi trai gái khác, tình yêu
không chỉ có quấn quít "đôi hồn" mà cũng có lúc ghen tuông:
Em muốn thu anh thành vật
nhỏ
Để
em nắm kín ở trong tay...
Cho các cô nường hết ngất ngây.
(Ghen - MĐ)
Trong bài
"ghen với Mộng Cầm" ta còn nhận thấy mặc dù Mộng Cầm là người con gái đã đến
trước, được hưởng đầy đủ khoái lạc của tình yêu lúc thi nhân đang lành lặn, mà
lại ruồng bỏ khi Người lâm bệnh. Nhưng với tư cách của Mai Đình vẫn tỏ ra là
người tao nhã, trang trọng: ghen đấy mà không phỉ báng còn cảm thông với lẽ đời
thường của một tấm lòng nhân hậu, khoan dung độ lượng:
Mộng Cầm hỡi, nàng là tiên rớt
xuống,
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay, sung sướng biết
bao vàn,
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ
thiếu?
(Ghen với Mộng Cầm - MĐ)
Đã bộc lộ tình cảm day dứt của một người con gái tha thiết yêu mà
tâm sinh lý không được thoả mãn. Hàn Mặc Tử có lúc cũng không ra khỏi sự nghi
kỵ, dằn vặt đời thường. Có lúc ông nghi oan người yêu có tình ý với người khác,
buông ra những lời thơ hờn giận:
Mai tiên nữ! Đọc hồn ta cho rõ:
Đau không rên, chết cũng mặc mình
thôi!
Mối tình si đã lỡ vỡ tan rồi,
Ta chỉ biết lặng nhìn thiên hạ
khóc...
Hay
là:
Tim hồn ta
quằn quại giữa lầm than
Để trở lại những ngày đầy huyết lệ!
Sự mặc cảm đó cũng dễ hiểu: bản thân ông bệnh tật, người yêu thì
trẻ đẹp lại ở cách xa...
Hôm nay trong lẽ sống
thường tình trước mọi sự đổi thay, thăng trầm nhân thế... ta thưởng thức những
tri âm, tri kỷ ấy càng thấy thiên tình duyên trác tuyệt này như một sự lạ
cõi đời. Trong thời buổi kinh tế thị trường chi phối cả trong tình
yêu trai gái và những mối quan hệ xã hội khác, thì cuộc tình xưa hẳn như một
đài thơ diễm lệ, cho ta ngưỡng mộ và cảm phục!
Có phải chăng duyên ấy, phận này cũng đã là tiền định như khi nữ sỹ khóc
bên mộ Người vào tháng 4-1941 (khoảng nửa năm sau khi thi nhân tạ thế):
Em đã về đây bên mồ cát
trắng
Túp lều tranh muôn thưở đã chung đôi
Tự nghìn năm thượng đế định cho
rồi...
Hay cảm vì phận mỏng, tình dở
dang, nàng than:
Anh ơi, xin hãy chờ em với!
Hết nợ rồi em sẽ trở về.
(Chắp lại đôi hồn - MĐ)
Ta chạnh nhớ tới câu thơ của cụ Nguyễn Du khi nàng Kiều than ở
sông Tiền Đường:
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây!
Về thơ của thi nhân HMT thì chúng ta đã biết nhiều. Ở
đây, qua tập thơ đôi hồn" còn cho chúng ta thưởng thức tài hoa của nữ sỹ Hoàng
Yến - Mai Đình... như Kiều Văn đã nhận xét trong lời giới thiệu tập thơ:
- Đó là một giọng thơ giản dị, chân thực mà sâu sắc, nồng
nàn... Là thứ thơ huyết lệ. Hàm chứa những tình cảm cao quí thiêng liêng, thuỷ
chung...Xứng đáng là tiền bối của thơ tình Xuân Quỳnh và các nữ sỹ khác sau
này.
Nói thế có lẽ vẫn chưa đủ, bút pháp thơ
của nữ sỹ Mai Đình có lúc quặn thắt, đau đớn như Nàng viết:
Nguyện để tang anh suốt một
đời!
Nhưng
trước tình yêu non sông đất nước, ta lại còn chứng nhận một phong cách cũng thật hào khí:
Chút nợ ân tình trả chưa xong
Đành mang tâm sự mãi bên
lòng
Sắt son đã chẳng cùng nhau trọn
Em phải đem mình gửi núi sông.
Gợi ta
nhớ tơi âm hưởng những câu thơ đầy hùng khí, trác tuyệt của nữ sỹ Ngân Giang trong bài "Trưng nữ vương":
Ải Bắc quân thù kinh vó
ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch ngôi trời
bóng lẻ soi.
Vào năm 1996 - Báo chí đã đưa tin về nữ sỹ Mai Đình... khi đó Bà bước vào
tuổi thọ 80, Bà đã đến Gành Ráng, Qui Nhơn một lần nữa để thăm lại mộ của cố
nhân. Một lần nữa, những giòng lệ xót thương lại chảy tràn trên đôi mắt Bà
như thưở còn con gái, như câu thơ Bà đã viết:
Tóc trắng, tình xanh mộng chửa
tàn.
Khi đó
tuy tuổi đã già, cũng theo lời kể của Đắc Trung:
-
Nữ sỹ Mai Đình vẫn giữ được những nét đẹp kiêu sa, quí phái. Mái tóc dài bạc
trắng chải rất mượt, búi rất gọn. Da hồng, mắt sáng, miệng tươi. Giọng nói nhỏ
nhẹ mà đầy âm hưởng. Khăn hoa áo lụa hảo hạng...
Để kết thúc bài viết về thiên tình ca trác tuyệt có một không
hai này, tôi xin trích dẫn những lời thơ trăng trối của thi nhân Hàn Mặc Tử
viết để lại cho người yêu. Đấy cũng là những bút tích cuối cùng, trong thi
phẩm cuối cùng của Ông lưu lại cõi trần gian - Người đã "Trút linh hồn" trước lúc
đi xa:
Ta trút
linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây,
- Còn em, sao chẳng hay
chi cả?
Xin để tang anh đến vạn ngày!
-Phạm Ngọc Thái-
